Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

10 công dụng nên thử của lá tre

10 công dụng nên thử của lá tre

Lá tre và các công dụng của lá tre
Đã từ rất lâu, cây tre là người bạn thân thiết của người dân Việt Nam. Ngoài ra, tre cũng là cây cho nhiều vị thuốc quý, cụ thể chữa được nhiều loại bệnh khác nhau.
Cây tre có tên khác là tre gai, tre nhà. Bộ phận dùng làm thuốc là (lá tre) tên thuốc là trúc diệp. Lá tre chứa chlorophyll, cholin…Cây tre được sử dụng làm thuốc trong dân gian và Đông y từ rất lâu đời. Tác dụng làm thuốc của cây tre được ghi lại sớm nhất trong sách “Danh y biệt lục”, cách nay khoảng 1500 năm.
Theo Đông y, lá tre vị ngọt nhạt, hơi cay, tính lạnh; vào kinh tâm và phế, có tác dụng thanh nhiệt, giải cảm, giải độc, hay được dùng trong các trường hợp mụn nhọt viêm tấy mưng mủ và sốt nóng trong dịch sốt huyết. Liều dùng 6-10g khô, 30-60g tươi dưới dạng nấu, sắc, hãm…
Một số bài thuốc sau chữa bệnh từ lá tre:

1. Lá tre chữa cảm sốt

  • Lá tre 30g, thạch cao 12g, mạch môn 8g, gạo tẻ 7g, bán hạ 4g, nhân sâm 2g, cam thảo 2g. Sắc uống ngày 1 thang. Chữa cảm sốt, miệng khô khát.
  • Lá tre 16g, kim ngân hoa 16g, cam thảo đất 12g, kinh giới 8g, bạc hà 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Chữa cảm cúm, sốt cao.

2. Lá tre chữa co giật trẻ em

Lá tre 16g, sinh địa 12g, mạch môn 12g, câu đằng 12g, lá vông 12g, chi tử 10g, cương tằm 8g, bạc hà 8g. Sắc uống.

3. Lá tre chữa sởi thời kỳ đang mọc

Lá tre 20g, sài đất 16g, kim ngân hoa 16g, mạch môn 12g, sa sâm 12g, cát căn 12g, cam thảo đất 12g. Sắc uống.

4. Chữa thủy đậu

Lá tre 8g, liên kiều 8g, cát cánh 4g, đạm đậu sị 4g, bạc hà 3g, chi tử 3g, cam thảo 3g, hành tăm 2 củ. Sắc uống ngày 1 thang.

5. Chữa ho suyễn, hoặc trúng phong cấm khẩu

Gừng sống giã vắt lấy nước cốt 1 chén, hòa với 1 chén trúc lịch cho bệnh nhân uống dần.

6. Chữa nấc

Dùng lá tre, tinh tre, gạo tẻ (rang vàng) mỗi thứ 20g, thạch cao (nướng đỏ) 30g, bán hạ 8g, mạch môn (bỏ lõi) 16g, tai quả hồng 10 cái; nước 800ml, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trong ngày.

7. Chữa viêm bàng quang cấp tính

Lá tre 16g, sinh địa 12g, mộc thông 12g, hoàng cầm 12g, cam thảo 6g, đăng tâm thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

8. Chữa miệng lưỡi lở loét

Búp tre 15-20g, sinh địa 10g, mộc thông 10g, cam thảo 8g, sắc nước uống thay nước trong ngày.

9. Chữa đái ra máu

Lá tre, mạch môn, mã đề, rễ cỏ tranh, thài lài tía, râu ngô mỗi thứ 20g; nước 700ml, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trong ngày.

10. Chữa viêm màng phổi có tràn dịch

Lá tre 20g, thạch cao 20g, vỏ rễ dâu, hạt rau đay, hạt bìm bìm, rễ cỏ tranh, thổ phục linh, bông mã đề mỗi thứ 12g. Dùng 600ml nước, sắc còn 200ml; uống hết một lần trước bữa trưa 30 phút. Lại thêm nước, sắc lần thứ hai, uống trước bữa cơm chiều. Cùng với việc điều trị bằng kháng sinh, bài thuốc này có tác dụng hỗ trợ rất tốt

Rễ cỏ tranh: Vị thuốc quý giải độc gan, bổ thận

Rễ cỏ tranh: Vị thuốc quý giải độc gan, bổ thận

Cỏ tranh và tác dụng thanh nhiệt giải độc
Có lẽ bất kỳ ai trong chúng ta đều đã một lần thử một cốc nước sâm mát lạnh trong những ngày hè nóng nực. Nhưng ít ai biết một trong những nguyên liệu làm ra nó lại chính là rễ cỏ tranh, một loại cây dại mà trước đây vẫn bị xem như là “kẻ thù của nhà nông”. Và lợi ích của nó không dừng lại ở một cốc nước sâm giải nhiệt.

Vị thuốc quý từ 2.000 năm trước

Những xe nước sâm lạnh bên đường từ lâu đã là hình ảnh quen thuộc của đường phố Sài Gòn và những cốc nước sâm ngọt mát đã đi vào ký ức của mỗi người khi nghĩ đến thành phố nhiệt đới nhiều nắng, sôi động này. Không chỉ mang lại thu nhập cho các hàng nước giải khát, những cốc nước sâm lạnh còn là nguồn sống của không ít người dân mưu sinh bằng nghề đào rễ cỏ tranh.
Một người dân sống tại P.15, Q.8, Tp.HCM, nơi có gần 40 hộ dân sinh sống bằng nghề đào rễ tranh hàng chục năm nay cho biết: “Rễ cỏ tranh có nhiều đốt như đốt mía và có vị ngọt. Nước nấu từ rễ cỏ tranh giúp thông tiểu, giải nhiệt, giải khát, giải độc. Còn khi nấu cùng với mía lau, rau bắp thì sẽ thành nước sâm, vẫn bán ở hè phố”.
Rễ cỏ tranh màu từ trắng ngà đến vàng nhạt, có nhiều đốt, xung quanh có các lá vẩy và rễ con. Trong rễ tranh có 18% là đường (cả đường glucose và fructose), đó là lý do vì sao rễ loại cây này lại có vị ngọt; cùng với các loại acid citric, malic, tartatric, oxalic, triterpene methylethers, arundoin và cylindrin.
Chẳng phải đến bây giờ người ta mới biết đến những lợi ích của nó, rễ cỏ tranh đã được dùng làm thuốc từ 2.000 năm trước và là vị thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh. Ngoài ra nó còn có mặt trong rất nhiều cuốn y thư cổ khác như Danh y biệt lục, Bản thảo kinh sơ, Đắc phổi bản thảo, Bản thảo cầu chân. Cỏ tranh có ở nhiều quốc gia và ở mỗi nước, nó lại được dùng để chủ trị các loại bệnh khác nhau. Ở Cambodia, rễ tranh được kết hợp với vài loại thảo mộc khác để trị bệnh trĩ. Ở Trung Quốc, rễ loại cây này được dùng để hạ sốt, trị nôn mửa, phù thủng. Còn người châu Phi lại dùng cỏ tranh để trị bệnh lậu và các rắc rối ở đường tiết niệu.
Khi dùng làm thuốc, bạn phải cắt bỏ phần rễ nằm trên mặt đất, chỉ lấy phần rễ nằm dưới mặt đất, bổ sạch bẹ, lá, rễ con. Đông y gọi rễ cỏ tranh là mao căn. Từ rễ cỏ tranh nguyên bản, tùy theo cách bào chế và mục đích chữa bệnh, vị thuốc này có thêm những tên gọi khác nhau. Rễ cỏ tranh tươi, rửa sạch, thái nhỏ thì được gọi là sinh mao căn. Rễ cỏ tranh tẩm nước cho mềm rồi cắt thành đoạn, phơi khô, sàng bỏ chất vụ thì được gọi là bạch mao căn. Lấy bạch mao căn cho vào nồi sao cho thuốc chuyển sang màu đen, bỏ ra phơi khô thì được mao căn thán.

Mát gan, lợi thận

Theo Đông y, rễ cỏ tranh vị ngọt, tính hàn nên có tác dụng thanh nhiệt, giải khát rất tốt. Nó còn giúp tiêu ứ huyết, lợi tiểu tiện, thanh phế vị nhiệt; chủ trị các chứng như chảy máu cam, tiểu ra máu, bí tiểu.
Còn theo y học hiện đại thì rễ cỏ tranh có tác dụng làm đông máu nhanh, bột mao căn làm rút ngắn thời gian hồi phục calci của huyết tương ở thỏ thực nghiệm. Về tác dụng lợi tiểu, y học hiện đại đã chứng minh bằng các thí nghiệm trên thỏ. Y học hiện đại cho rằng tác dụng này có liên quan đến hệ thần kinh hoặc do thuốc có chứa muối kali. Ngoài ra thuốc sắc từ rễ cỏ tranh còn có tác dụng ức chế vi khuẩn, mà cụ thể là khuẩn Flexner và Sonnei gây ra bệnh kiết lỵ ở người. Nhưng có lẽ, tác dụng được nhiều người nhắc đến nhất ở loại thảo dược này chính là hỗ trợ điều trị bệnh thận.
Lương y Huyên Thảo (Hà Nội) trong một bài giới thiệu về vị thuốc này chia sẻ: Các nghiên cứu lâm sàng tại Trung Quốc cho thấy, rễ cỏ tranh có tác dụng tương đối tốt trong việc hỗ trợ điều trị viêm thận cấp, giúp rút ngắn thời gian điều trị. Đối với viêm thận mạn tính, rễ cỏ tranh với tác dụng lợi niệu, tiêu thũng và hạ huyết áp nhất định.
Để hỗ trợ điều trị viêm thận cấp, sắc 200g bạch mao căn với 500ml nước, đun nhỏ lửa, đến khi còn lại 100-150ml thì dùng được, chia thành 2-3 lần uống, dùng hết trong ngày. Uống liên tục trong 1 tháng sẽ thấy hiệu quả khá rõ rệt.
Hoặc, bạn cũng có thể dùng sinh mao căn kết hợp với mã đề, kim ngân hoa, cam thảo nam, kim anh tử, đậu đen, hoàng đằng, kinh giới, cỏ mần trầu để cho hiệu quả tốt hơn. Các loại trên mỗi vị 10g, đổ vào 3 bát nước, sắc còn khoảng 1 bát, uống sau bữa ăn, dùng hết trong ngày. Uống liên tục trong 15 ngày.
Những người gan yếu do hút thuốc, uống rượu bia nhiều hoặc các rắc rối về chức năng gan, có thể dùng các bài thuốc từ rễ cỏ tranh để thanh lọc, giải độc, làm mát gan. Bạn có thể dùng rễ cỏ tranh để nấu nước uống theo cách sau: Lấy 200g sinh mao căn sắc với 700ml nước, đun to lửa, khi nước sôi thì giảm nhỏ lửa đun tiếp 7-10 phút, lọc lấy nước, uống thay chè, dùng trong ngày. Uống liên tiếp 10-15 ngày. Bạn có thể nghỉ một thời gian rồi uống lặp lại 10-15 ngày nữa.
Mao căn cũng có thể nấu với thịt lợn nạc để làm thành món ăn bài thuốc. Dùng 150g sinh mao căn, 50g bạch anh tươi, 150g thịt lợn nạc thái lát mỏng. Cho vào nồi đun nhừ, nêm gia vị vừa đủ, ăn 1 lần/ngày, liêu tục trong 10-15 ngày.

Và nhiều công dụng khác

Không chỉ dùng để hỗ trợ điều trị các bệnh về gan thận, rễ cỏ tranh còn có mặt trong nhiều bài thuốc khác:
  • Chảy máu cam: Dùng 36g bạch mao căn, 18g chi tử sắc với 400ml nước, đến khi còn 100ml, uống nóng sau ăn hoặc trước khi ngủ. Nếu dùng sinh mao căn thì cần dùng 80g, sắc nước uống hàng ngày, uống khi nguội sau bữa ăn, kéo dài 7-10 ngày.
  • Hen suyễn: Sắc 20g sinh mao căn, uống sau khi ăn tối khi thuốc còn ấm, dùng trong 8 ngày.
  • Lợi tiểu: Bạch mao căn 30g, râu ngô 40g, xa tiền tử 25g, hoa cúc 5g, tất cả trộn đều. Mỗi lần lấy 50g hãm với 0,75ml nước sôi, uống trong ngày; dùng trong 10 ngày. Bạn cũng có thể dùng 50g sinh mao căn, 15g lá sen cạn, 10g râu ngô, 10g rau má, 8g rau diếp cá, sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần. Dùng 3-5 ngày.
  • Tiểu ra máu (do nhiễm trùng đường tiết niệu): Dùng mao căn thán, gừng (đã sao cháy) sắc với 400ml nước còn 100ml, uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng trong 7-10 ngày.
Lưu ý: Người hư hỏa, phụ nữ mang thai không nên dùng rễ cỏ tranh

Những công dụng chữa bệnh quá tuyệt vời của quả mướp

Những công dụng chữa bệnh quá tuyệt vời của quả mướp

Những công dụng của mướp
Viêm xoang, viêm họng, đại tiện ra máu, đau nhức thần kinh… là những chứng bệnh hoàn toàn có thể chữa khỏi nhờ quả mướp bởi tất cả các bộ phận của loại quả này từ xưa đã trở thành bài thuốc quý trong Đông y.

Trị viêm xoang

Theo Đông y, quả mướp vị ngọt, tính bình, không độc có thể dùng để trị rất nhiều bệnh. Từ hoa mướp đến xơ mướp, từ mướp tươi đến mướp khô đều có tác dụng trị bệnh mà không gây tác dụng phụ nào. Người ta biết đến nhiều nhất là tác dụng trị viêm xoang của quả mướp. Theo đó, chỉ cần dùng quả mướp khô sắc nước uống liên tục trong 8 ngày, người bệnh sẽ thấy sự khác biệt rõ rệt.
Cách làm đơn giản như sau: mướp đem phơi khô sau đó đem bỏ vào nồi rang cho mướp teo lại và đem nghiền thành bột mịn. Mỗi lần người bị viêm xoang nên uống 6g, ngày một lần vào buổi sáng khi vừa ngủ dậy, bụng chưa có gì. Kiên trì thực hiện trong 8 ngày, chứng viêm xoang sẽ biến mất.

Trị đại tiện ra máu do trĩ

Về chứng đi đại tiện khó khăn đến mức chảy cả máu, có thể dùng hoa mướp nấu nước uống hoặc đơn giản và phổ biến hơn, dùng mướp nấu canh ăn hàng ngày sẽ có tác dụng nhuận tràng.
Nếu dùng hoa mướp, người bị trĩ chỉ cần dùng 30g hoa mướp nấu thành nước uống, uống mỗi ngày 1 lần.
Đơn giản hơn, người bị trĩ có thể dùng mướp tươi nấu canh cùng thịt lợn nạc ăn hàng ngày.

Chữa viêm họng

Lá mướp hương rửa sạch, giã nhỏ với ít muối, thêm nước, gạn uống làm một lần. Chữa ho, hen kéo dài: Lá mướp hương 15g nấu nước uống hoặc chế biến dưới dạng cao lỏng 1/1, mỗi lần uống 0,5ml.

Điều trị huyết áp

Mướp tươi 300g, táo ta 200g, chanh 50g, đường phèn lượng vừa đủ. Mướp và táo gọt vỏ, rửa sạch, thái vụn, ép lấy nước, hòa với nước chanh và đường phèn, dùng làm nước giải khát trong ngày. Mỗi liệu trình 10 ngày.

Trị đau nhức thần kinh

Lấy nước mướp hâm nóng xong uống, lượng dùng dựa theo triệu chứng bệnh nặng nhẹ để định đoạt, mỗi ngày khoảng 100ml hoặc dùng lá mướp xay nhuyễn thành nước bôi lên chỗ đau cũng có hiệu nghiệm.

Chữa sốt cao, đau đầu

Hoa mướp 20g, hạt đậu xanh 100g. Đậu xanh để cả vỏ, ninh nhừ rồi lấy khoảng 400ml nước cốt.
Vớt xác đậu xanh ra, cho hoa mướp đã thái nhỏ vào, đun sôi trong 5-10 phút. Để nguội. Chắt lấy nước uống làm 2-3 lần trong ngày.

Trị nổi mề đay

Lá mướp tươi 1 nắm, nghiền nát thành nước, thêm vào một chút băng phiến, bôi lên vết lở, nổi.

Điều hòa kinh nguyệt

Dùng 1 quả mướp khô đốt tồn tính, tán bột, uống ngày 10g vào lúc sáng sớm đói bụng có tác dụng điều hòa kinh nguyệt. Mỗi liệu trình 10 ngày.

tỏi đen

Tỏi đen – công dụng và cách sử dụng

Tỏi lên men trong 60 ngày sẽ chuyền thành màu đen (nên được gọi là tỏi đen). Tỏi đen có nhiều công dụng rất tốt cho sức khỏe: ngăn ngừa xơ cứng động mạnh, tốt cho tim mạch, giảm cholesterol…
toi-den
Ăn từ một đến 3 củ tỏi đen mỗi ngày hoặc ngâm rượu uống tốt cho sức khỏe
Theo bác sĩ Huỳnh Tấn Vũ (Khoa Y học cổ truyền, ĐH Y Dược T.p HCM) cho hay, từ xưa tỏi đen đã được dùng nhiều như một phương thuốc tự nhiên chữa các bệnh thường gặp như cúm, nhiễm trùng…Tỏi đen được các chuyên gia đánh giá là một trong những loại thảo dược quý.
Theo kết quả nghiên cứu, trong tỏi đen chứa tới 18 loại acid amin, SOD enzin-polyphenol có tác dụng phòng chống ung thư, S-allyl cysteine có công dụng giảm mỡ trong máu. Những chất này được chứng minh có tác dụng bảo vệ tế bào gan, giảm cholesterol giúp ngăn ngừa xơ cứng động mạch, tốt cho tim mạch. Tỏi đen cũng được biết đến với khả năng gỗ trợ điều trị ung thư do khả năng chống oxy hóa và tăng cường miễn dịch.

Một vài công dụng của tỏi đen

  • Giảm cholesterol: S-allyl cysteine trong tỏi đen có khả năng làm giảm cholesterol.
  • Chống vi khuẩn, nhiễm trùng: S-allyl cysteine hỗ trợ hấp thụ allicin, tăng khả năng tự bảo vệ của cơ thể chống lại vi khuẩn, virus và tác nhân nhiễm trùng.
  • Chống gốc tự do: Tỏi đen có khả năng chống oxy hóa tốt do đó tỏi đen rất tốt cho các bệnh mãn tính (gây ra bởi các tế bào bị hư tổn do các gốc tự do) như tim mạch, bệnh Alzheimer, viêm khớp…
  • Hỗ trợ điều trị ung thư: Các hợp chất sulfur hữu cơ, dẫn chất của tetrahydro carboline được hình thành từ quá trình lên men có hoạt tính mạnh dọn gốc tự do và ức chế quá trình peroxy hóa lipid giúp kháng lại các tế bào khối u.

Một vài cách sử dụng tỏi đen

Ăn trực tiếp: Tỏi đen nguyên củ, bóc vỏ ăn trực tiếp từ 1-3 củ /ngày. Khi ăn nên nhai kỹ để việc hấp thụ tỏi đen dễ dàng hơn
Dùng ngâm rượu: Ngâm tỏi đen với rượu trắng, tốt nhất là rượu nếp nguyên chất không có cồn. Cách dùng mỗi lần khoảng 50ml, uống ít nhất 1 lần trong ngày.

Hương phụ

Hương phụ

Củ gấu hay cỏ gấu, cỏ gấu vườn, cỏ cú, hương phụ (danh pháp hai phần: Cyperus rotundus L)

Thông tin cơ bản

Củ gấu hay cỏ gấu, cỏ gấu vườn, cỏ cú, hương phụ (danh pháp hai phần: Cyperus rotundus L) là loài thực vật thuộc họ Cói, bản địa của châu Phi, Nam Âu, Trung Âu và Nam Á. Từ cyperus xuất phát từ tiếng Hy Lạp “κύπερος” (kuperos)[1] và rotundus là tiếng Latin, đều có nghĩa là “tròn”. Cyperus rotundus là loài cây sống lâu năm, có thể mọc cao tới 40 cm. Tên gọi “cỏ gấu” cũng chia sẻ với Cyperus esculentus (cói gấu tầu hay cỏ gấu tầu).

Nhận dạnghuong-phu-cay-thuoc-nam

Giống như các loài khác trong họ Cyperaceae, lá của nó mọc thành nhiều tầng, gồm 3 lá mỗi tầng từ gốc cây. Đoạn thân mang hoa có tiết diện hình tam giác. Hoa lưỡng tính có 3 nhị và một lá noãn với 3 đầu nhụy. Quả là dạng quả bế ba góc.
Hệ rễ của cỏ gấu non ban đầu hình thành từ các thân rễ màu trắng to mập. Một số thân rễ mọc ngược lên trên mặt đất, sau đó hình thành cấu trúc giống như hành mà từ đó các chồi và rễ mới hình thành, và từ các rễ mới lại hình thành ra các thân rễ mới. Các thân rễ khác mọc ngang hay chui xuống dưới và tạo ra các củ màu nâu đỏ sẫm hay một chuỗi các củ.

Phân bố

Cỏ gấu mọc hoang trên khắp nơi trên đồng ruộng, ven đường, ven biển. Tại những nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Indonesia có mọc nhiều loại cây này.

Cây Ngải cứu

Ngải cứu

Ngải cứu vị thuốc của người nghèo
Ngải cứu còn có tên thuốc cứu, ngải diệp, nhả ngải (tiếng Tày), quá sú (H’mông), cỏ linh li (Thái), danh pháp hai phần: Artemisia vulgaris L.

Thông tin cơ bản

Ngải cứu còn có tên thuốc cứu, ngải diệp, nhả ngải (tiếng Tày), quá sú (H’mông), cỏ linh li (Thái), danh pháp hai phần: Artemisia vulgaris, là một loài thực vật thuộc họ Cúc (Asteraceae).
Ngải cứu là cây thân thảo, sống lâu năm, lá mọc so le, chẻ lông chim, phiến men theo cuống đến tận gốc, dính vào thân như có bẹ, các thùy hình mác hẹp, đầu nhọn, mặt trên màu lục sậm, mặt dưới phủ đầy lông nhung màu trắng. Những lá ở ngọn có hoa không chẻ.
Cây ngải cứu ưa ẩm, dễ trồng bằng cách giâm cành hay cây con.

Nhận dạngngai-cuu-cay-thuoc-nam

Cây cỏ, sống nhiều năm, cao 0,4 – 1m; cành non có lông. Lá mọc so le, phiến lá xẻ lông chim, mặt trên xanh sẫm, mặt dưới màu trắng xám, có lông. Vò nát có mùi thơm hắc. Cụm hoa hình đầu nhỏ, màu vàng lục nhạt, mọc tập trung thành từng chùm kép ở đầu cành. Quả bế nhỏ, không có túm lông.

Phân bố

Ngải cứu có nguồn gốc ôn đới ở châu Âu, châu Á, bắc Phi, Alaska và bắc Mỹ, trong đó một số vùng coi nó là cỏ dại xâm lấn.

Bài thuốc từ Ngải cứu

cây diếp cá

Diếp cá

Rau diếp cá chữa bệnh trĩ
Giấp cá hay dấp cá, diếp cá, lá giấp, rau giấp (danh pháp khoa học: Houttuynia cordata thunb) là một loài thực vật thuộc họ Saururaceae.

Thông tin cơ bản

Giấp cá hay dấp cá, diếp cá, lá giấp, rau giấp (danh pháp khoa học: Houttuynia cordata) là một loài thực vật thuộc họ Saururaceae.

Nhận dạngdiep-ca-cay-thuoc-nam

Là một loại cỏ nhỏ, mọc quanh năm (evergreen), ưa chỗ ẩm ướt, có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt. Lá mọc cách (so le), hình tim, có bẹ, đầu lá hơi nhọn hay nhọn hẳn, khi vò ra có mùi tanh như mùi cá. Cây thảo cao 15–50 cm; thân màu lục hoặc tím đỏ, mọc đứng cao 40 cm, có lông hoặc ít lông. Cụm hoa nhỏ hình bông bao bởi 4 lá bắc màu trắng, trong chứa nhiều hoa nhỏ màu vàng nhạt, trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc. Quả nang mở ở đỉnh, hạt hình trái xoan, nhẵn. Mùa hoa tháng 5-8, quả tháng 7-10.

Phân bố

Loài của lục địa châu Á, phân bố từ Ấn Độ qua Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, các nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam, diếp cá mọc hoang ở chỗ ẩm ướt.

Bài thuốc từ Diếp cá

Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm

Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm

Người có bệnh về tiêu hóa, chán ăn, không ngon miệng sẽ khó có sức khỏe tốt, cơ thể gầy yếu, thiếu sức sống. Lời khuyên sau có thể giúp bạn cải thiện tình hình.

Tiến sĩ, Bác sĩ Tưởng Vinh Hâm, khoa Đông Tây y kết hợp, Bệnh viện Tương Nhã thuộc Đại học Trung Nam (Trung Quốc) là người có kinh nghiệm trong lĩnh vực điều trị các bệnh về rối loạn tiêu hóa, các bệnh phát sinh từ nguyên nhân ăn uống chia sẻ cách giúp bạn cải thiện sự thèm ăn, tăng khẩu vị ăn uống.
Y học Trung Quốc rất chú trọng đến việc chăm sóc cảm giác tốt khi ăn uống. Tức là việc ăn uống có ngon miệng hay không có sự liên quan lớn đến khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng nuôi cơ thể.
Trong đó, chán ăn, không muốn ăn, ăn không ngon miệng là một trong những bệnh cần được quan tâm nhiều hơn. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng có thể xuất phát chủ yếu từ bệnh rối loạn dạ dày.
Theo Tiến sĩ Tưởng, rối loạn dạ dày có thể phát sinh do ăn uống không đúng cách, chế độ ăn uống không hợp lý lâu dài, từ đó làm tổn thương dạ dày, phản ứng ngược trở lại lên khẩu vị.
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 1.
Theo nghiên cứu lâm sàng, có thể chia thành 3 nhóm bệnh nhân có cùng triệu chứng chán ăn nhưng xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau.
Nhóm thứ nhất là ăn vào khó tiêu: Biểu hiện cụ thể là khi ăn vào, cơ thể không dung nạp thức ăn, không có cảm giác thèm ăn. Những người này có thể hình gầy gò, tinh thần trạng thái bình thường, đại tiểu tiện bình thường, chỉ cần dùng các biện pháp làm tráng kiện tì vị là có thể khắc phục tình trạng bệnh.
Nhóm thứ hai là dạ dày thiếu âm: Biểu hiện của nhóm người mắc bệnh này là khô miệng, không muốn ăn, da dẻ khô, ít ẩm, đại tiện phân khô, lưỡi đỏ…
Cách chữa trị bệnh này chủ yếu dựa vào điều chỉnh cân bằng âm dương trong dạ dày theo cách của Đông y. Khi dạ dày có sự cân bằng thì các triệu chứng bệnh trên sẽ giảm.
Nhóm thứ ba là tì vị khí hư: Biểu hiện của bệnh này là trạng thái tinh thần kém, sắc mặt nhợt nhạt, đi ngoài phân sống hoặc phân không thành khuôn, dễ ra mồ hôi, lưỡi trắng…
Cách chữa trị bệnh này chủ yếu dựa vào việc kiện tì ích khí. Nếu điều trị không đúng gốc rễ vấn đề sẽ không mang lại hiệu quả.
Bài thuốc kích thích thèm ăn nên có trong gia đình
Cách làm:
Phục linh, đậu trắng mỗi loại 12g, khoai mỡ, hạt ý dĩ mỗi loại 25g, đảng sâm 15g, bạch truật, trần bì mỗi loại 10g, sa nhân, mộc hương, cam thảo mỗi loại 6g.
Tất cả nguyên liệu trên thêm nước vừa đủ, sắc thành nước uống, mỗi ngày một thang, chia thành 3 lần uống. Tùy bệnh nặng nhẹ để quyết định số ngày cần uống. Trong quá trình uống, thấy kết quả tốt thì có thể dừng uống. Tham khảo ý kiến thầy thuốc Đông y trong từng trường hợp cụ thể.
Tác dụng của các thành phần trong bài thuốc
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 2.
Phục linh có tác dụng lợi tiểu, tiêu ẩm, kiện tì an thần.
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 3.
Đậu trắng kiện tì tiêu ẩm, điều hòa nội tạng, giải nóng.
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 4.
Khoai mỡ (có thể thay thế bằng khoai lang, khoai vạc, khoai từ) là thực phẩm có cùng lúc nhiều tác dụng, trong đó nổi bật là điều hòa tì vị rất tốt.
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 5.
Hạt ý dĩ có thể nấu cháo, cơm và các món ăn đa dạng khác để bồi bổ sức khỏe.
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 6.
Đảng sâm
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 7.
Bạch truật có tác dụng chính trong việc điều trị tì vị hư nhược, không thiết ăn uống, cơ thể rã rời không còn sức sống. Đồng thời có thể túc đẩy quá trình tiêu hóa thức ăn, tăng cường nhu động ruột, dễ tiêu hóa.
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 8.
Trần bì chống đầy hơi, tăng tiết dịch dạ dày
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 9.
Sa nhân có tác dụng điều hòa khí trong toàn bộ cơ thể, có tác dụng ổn định dạ dày và đánh thức lá lách.
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 10.
Mộc hương kiện tì vị, thúc đẩy tiêu hóa.
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 11.
Cam thảo bổ tì ích khí, giảm ho tiêu viêm, hỗ trợ phổi hoạt động hiệu quả hơn, được xem là điều hòa bách dược – vị thuốc có trong mọi đơn thuốc.
Bài thuốc kích thích sự thèm ăn gia đình nào cũng có thể tự làm - Ảnh 12.
Tiến sĩ, Bác sĩ Tưởng Vinh Hâm, khoa Đông Tây y kết hợp, Bệnh viện Tương Nhã thuộc Đại học Trung Nam (Trung Quốc)
*Theo Health/People

bài mới

tỏi đen

bài đăng được quan tâm